ĐỨC PHẬT BẤT ĐỘNG – A SÚC BỆ NHƯ LAI – AKSHOBHYA

Source: Facebook

ĐỨC PHẬT BẤT ĐỘNG – A SÚC BỆ NHƯ LAI – AKSHOBHYA

Đức Phật Bất Động là một trong năm vị Phật trong Ngũ Trí Như Lai cùng với 4 vị Phật khác đó là:
– Đại Nhật Như Lai – Tỳ Lô Giá Na Như Lai – Vairocana
– Phật A Di Đà – A Di Đà Như Lai – Amitabha
– Phật Bảo Sinh – Bảo Sanh Như Lai – Ratnasambhava
– Bất Không Thành Tựu Như Lai – Amoghasiddhi.

Đức Phật Bất Động chuyển hoá cho sân giận thành trí tuệ Đại Viên Cảnh Trí. Với trí tuệ này, chúng ta có thể nhìn thấy bản chất thật của mọi thứ một cách khách quan, không giả tạo. Bất kể đối tượng là một bông hoa hồng đỏ thắm hay là một con dao găm nhuốm máu, chiếc gương trí tuệ này sẽ phản chiếu cả hai theo bản chất vốn có của chúng, không phán xét hay phân biệt hai màu đỏ, không cố gắng tán thán bông hồng hay quy kết chối bỏ con dao đầy máu, không khước từ và không bám chấp. Chiếc gương luôn giữ được sự điềm tĩnh, bất biến. Tâm của chúng ta cũng nên như vậy cho dù trong hoàn cảnh thuận lợi cũng như bất lợi. Đức Phật Bất Động có sắc xanh tượng trưng cho thuỷ đại, và nước cũng có khả năng phản chiếu như một chiếc gương.

Đức Phật A Súc Bệ Như Lai tượng trưng cho việc vượt qua những đam mê như giận dữ và hận thù đối với những chúng sinh khác. Phật Akshobhya xuất phát từ thần chú “Hum” màu xanh và khi trở thành một vị Phật và đạt được giác ngộ, ngài được giao quyền cai trị vùng thiên đàng phía đông Abhirati. Sankskrit cho vùng đất này chuyển thành niềm vui, do đó, đó là vùng đất vui vẻ. Người ta tin rằng những người được tái sanh trong cõi này không bao giờ có thể rơi vào cõi thấp hơn của ý thức và sẽ không bao giờ được sinh ra nữa. Do đó, người ta nói rằng tất cả các tín hữu nên tìm cách tuân theo và thực hiện lời thệ của Đức Akshobhya. Ajahobhya bija là Hum và thần chú của ngài là Om Akshobhya Hum.
Đức Akshobhya đã thề sẽ không bao giờ làm cho giận dữ hay bất mãn với bất cứ ai. Ngài rất bất động khi phải giữ lời thề. Đây là cách Ngài nhận được tên của mình có nghĩa là “bất động.” Người ta nói rằng Ngài theo đuổi sự khai sáng sau một thời gian dài vô tận. Cuối cùng Ngài đã đạt được giác ngộ này và cùng với nó, Ngài đã có được thiên đường Abhirati. Do đó, Ngài thường được sử dụng để thiền định khi cần vượt qua sợ hãi và hận thù.

Đức Akshobya là một trong những vị Phật trung tâm trong Phật giáo Kim Cương Thừa. Đức Akshobhya cũng được đề cập đến trong một số kinh điển Đại Thừa, Vimalakirti Nirdesa là một trong số đó của Ngài nổi tiếng nhất.

Minh phi Trí tuệ của Ngài là Phật Mẫu Mamaki, thể hiện sự thanh tịnh của yếu tố Thủy đại. Trong sự hiện thân tiêu cực, sân giận có thể gây ra phá hủy và hãm hại. Tuy nhiên, sân giận cũng có những tiềm năng tích cực tạo ra kết quả tích cực. Tương tự như vậy, Thủy đại có hai khía cạnh. Nếu Thủy đại xuất hiện trong chúng ta một cách nguy hiểm, có thể gây ra nhiều tổn hại và phá hủy. Ngược lại, nước là chất lỏng và có khả năng gắn kết. Thậm chí những phân tử nhỏ nhất nếu thiếu yếu tố nước cũng sẽ bị khô cằn giống như các hạt bụi.

Đức Akshobhya là một trong năm vị Dhayani (Ngũ trí Như Lai), là biểu tượng của Đạo Phật Đại Thừa. Mỗi biểu tượng tượng trưng cho các giai đoạn khác nhau của con đường đến sự giác ngộ tâm linh. Đức Akshobhya thường có màu xanh, nhưng đôi khi cũng vàng. Đức Akshobhya thường được miêu tả bằng bàn tay phải chạm vào trái đất. Chạm vào trái đất là một biểu tượng để sử dụng trái đất như là một chứng tá cho sự giác ngộ. Trong tay trái của mình, Ngài nắm giữ biểu tượng của mình: một vajra – kim cương chử là biểu tượng của shunyata, hay gọi là tánh không. Đức Akshobhya được biết đến như là bất động bởi vì Ngài không thể giữ lời thề của mình mà không bao giờ cảm thấy tức giận. Vì vậy, Ngài thường được sử dụng trong thiền để vượt qua hận thù và tức giận.

Kim cương chử:

Đây là một pháp khí có tính chất cứng rắn của kim cương, có thể cắt mọi vật thể khác mà không vật thể nào cắt được nó, đồng thời, nó có thêm sức mạnh vô địch của sấm sét. Do vậy, nó là biểu tượng cho tinh thần kiên định và uy lực tâm linh.

Những chiếc hoa sen tám cánh đang nở ra bên ngoài biểu thị tám bồ tát. Sự có mặt của Ngài Akshobhya với vajra cũng tượng trưng cho sự bảo vệ. Trên những phẩm chất này, vị Ngài còn tượng trưng cho ý thức như là một phần của thực tại và ánh sáng không giới hạn.

-ST-

'Giải Thoát Thông Qua Sự Thấy  Vì lòng đại bi thương xót chúng sanh, Chư Phật và Bồ Tát đã tạo ra những phương tiện thật thiện xảo để cứu vớt chúng sinh. Xin giới thiệu một phương pháp thanh tịnh nghiệp chướng thông qua sự thấy cho những người hữu duyên. Trong Kinh Thác Nước Mạnh Mẽ (Forceful Waterfall Sutra) có chép: Chỉ cần nhìn thấy câu chú này một lần có thể thanh tịnh nghiệp chướng của ba trăm triệu kiếp trong quá khứ; Kinh Kutagara nói rằng nếu chúng ta đi dưới Thần chú này chỉ một lần, những ác hạnh của ta trong một ngàn kiếp sẽ được tịnh hóa.  Chúng ta đã quen thuộc với bản văn “Giải Thoát Thông Qua Lắng Nghe” (Bardo Thodol – The Tibetan Book Of The Death) của người Tây Tạng. Nay xin giới thiệu “Giải Thoát Thông Qua Sự Thấy” (Liberation Upon Seeing). Giải Thoát Thông Qua Sự Thấy là một terma (kho tàng giáo pháp do đức Liên Hoa Sanh và Yeshe Tsogyal ẩn dấu, sẽ được phát hiện tại thời điểm thích hợp bởi một bậc thầy giác ngộ) viết bằng ngôn ngữ của những Không Hành Nam (Dakas) và Không Hành Nữ (Dakinis).  Terma này được phát hiện bởi Terton Mingyur Dorje ở thế kỷ 17. Terton Mingyur Dorje (1645-1667) được xem là vị guru thứ 27, dòng Giác Ngộ Hoàn Hảo (Perfect Enlightenment Sect) của trường phái Nyingma.  Những người may mắn được thấy hình này sẽ không kinh nghiệm qua ba cõi thấp và sẽ được giải phóng khỏi nỗi sợ rơi vào các cõi thấp; sẽ được thanh lọc năm độc (tham, sân, si, kiêu mạn và đố kị) và giải thoát khỏi nghiệp chướng; được giải thoát khỏi nỗi sợ hãi của phần còn lại trong luân hồi.     ( "Those who see this script will not experience the three lower realms and will be liberated from the fear of falling into the lower realms; will be purified of the five poisons and will be freed from the results of one's karma; will be freed from the fear of remaining in samsara.")  Trích từ Terma của TERTON Migyur Dorje  Đại sư Garchen Rinpoche trong chuyến thăm Việt Nam đã rất khuyến khích sử dụng hình ảnh này, Ngài nói nếu ai vì nghiệp phải làm các việc liên quan đến giết mổ động vật có thể dán hình câu chú này để các loài động vật trước khi chết có duyên nhìn thấy. Hai câu chú trong hình do Đức Phật thuyết trong Kinh Kutagara (Kutagara Sutra) và Kinh Thác Nước Mạnh Mẽ (Forceful Waterfall Sutra).  Dòng đầu tiên: Om Padmo Ushnisha Vimale Hum Phat  Dòng thứ hai : Om Hanu Pasha Bhara Heye Soha  CÂU HỎI : Bạch Thầy, xin thầy hãy giải thích thêm về các sự giải thoát trong Mật Tông, chẳng hạn như giải thoát qua sự nhìn ngắm, giải thoát qua sự lắng nghe. Sau khi đã gặp được một trong những sự giải thoát trên thì có khả năng chúng ta còn tiếp tục bị đọa xuống cõi thấp không?  TRẢ LỜI CỦA NGÀI GARCHEN RINPOCHE: Chúng sinh nào nhìn thấy những tấm sticker này là cũng đã từng tích lũy công đức trong nhiều kiếp chứ không phải chỉ mới đây.  Chư Phật có rất nhiều cách để cứu giúp chúng sinh, đặc biệt là những chúng sinh không có được thân người, không có được cơ hội thực hành giáo Pháp, như loài vật chẳng hạn. Ví dụ, những loài vật nhìn thấy câu chú trên tấm thẻ này thì có thể sẽ được sinh về cõi thiên. Rồi sau đó dần dần ác nghiệp giảm bớt thì họ sẽ sinh về cõi người và có thể gặp Phật pháp nhờ chính nhân duyên hy hữu này. Khi được nhìn thấy minh chú này thì sẽ không bị đọa cõi thấp kiếp sau; tuy nhiên dù có lên được cõi cao thì vẫn không có nghĩa là họ sẽ thoát khổ vì mỗi cõi của luân hồi đều có những khổ đau riêng. Cõi thấp hay cõi cao thì chúng ta cũng đều bị đau khổ cả vì chúng ta đã tạo ra rất nhiều ác nghiệp .  Có người nói rằng khi mà họ được nhìn câu minh chú đó, họ không có thấy thay đổi, hay lợi lạc gì cả, như vậy nghĩa là sao. Thật ra có sự thay đổi nhưng nó ngấm ngầm; họ không thấy được bởi nghiệp của họ quá sâu dày. Họ không nhìn thấy được bằng mắt phàm, họ không nhìn thấy được những sự thay đổi bên mặt dưới. Ví dụ giống như một cái ngọn núi phủ đầy tuyết trắng trên đó. Mặt trời chiếu ánh nắng vào những lớp tuyết và tuyết có tan chảy đi từng chút, từng chút một. Nhưng vì núi tuyết quá to lớn nên ta không nhìn thấy sự tan chảy của những lớp tuyết dày bên dưới.  Nhưng đối với những người nghiệp của họ nhẹ, thì họ có một lớp tuyết mỏng thôi chứ không phải cả núi tuyết lớn. Khi họ nghiệp nhẹ thì họ có thể thấy rõ sự biến đổi như những lớp tuyết mỏng tan đi. Đối với những người đó thì sự chuyển hóa dễ nhận thấy hơn nhiều. Tâm họ trở nên trong sáng hơn, trí tuệ tăng trưởng và bừng sáng, tình thương yêu trở nên rộng lớn, mạnh mẽ hơn. Đó là những dấu hiệu cho thấy họ tịnh hóa được nghiệp nhờ những phương tiện mà Chư Phật đã ban cho. Nhưng không phải tất cả chúng sinh đều giống nhau. Đa phần chúng sinh mang nghiệp nặng và giống như núi tuyết khổng lồ, nên ta không nhìn thấy sự thay đổi, sự chuyển hóa nhưng thật ra thì có thay đổi, tuy rất nhỏ và chậm. Có nhiều loại chướng ngại nhưng chướng ngại lớn nhất và tệ hại nhất vẫn luôn là tâm chấp ngã. Chấp ngã càng nhiều, tâm vị kỷ càng lớn thì chướng ngại càng nặng. Tất cả mọi phiền não, mọi đau khổ, chướng ngại, mê mờ đều từ đó mà ra. Tâm từ bi, tình thương yêu của chư Phật dành cho chúng ta quả là mênh mông không bờ bến nên các Ngài muốn giúp cho chúng ta có nhiều phương tiện để hóa giải tâm chấp ngã đó. Bởi vậy mà ta nương vào tình thương yêu của Chư Phật, nương vào lời cầu nguyện của Chư Phật và nương vào những phương tiện của các Ngài. Nhưng tựu chung thì chướng ngại to lớn nhất vẫn là tâm chấp ngã và phương tiện hiệu quả nhất mà chúng ta có thể áp dụng là phát triển tình yêu thương cho tất cả chúng sinh, và chính tình yêu thương, tâm từ bi là pháp đối trị quan trọng nhất cho tâm chấp ngã.  (Trích trong cuốn: Bài giảng của thầy)  P/S: Bản vẽ corel của thần chú này đã được hoàn thành các bác ai cần thì cứ inbox hoặc comment địa chỉ email em sẽ gửi mail ạ _/|\_ Om Mani Padme Hum   Hồi hướng: xin hồi hướng công đức vì lợi ích của toàn thể chúng sanh'
Comments